Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • Thiền sư Khương Tăng Hội

    (PGVN)

    Tôi rất vui khi biết sách quý và giá trị “Thiền sư Khương Tăng Hội” vừa được tái bản và chỉnh sửa cách đây vài ngày, ngay trước thềm năm mới 2016.

    Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất lớn và thế giới đã thu nhỏ lại như trong lòng bàn tay. Loài người trên trái đất này đã có hầu như tất cả những gì mình muốn, và thậm chí nhiều thứ vượt cả ngoài sự tưởng tượng của chính chúng ta mới cách đây mới vài chục năm mà thôi. Văn minh của kỷ nguyên này quả là quá tuyệt vời.

    Những năm gần đây chúng ta bàn nhiều về sức mạnh của dân tộc Việt, chúng ta tìm cũng cách xuất khẩu những gì tinh túy nhất của nước Nam ra với thế giới. Tôi luôn đau đáu với suy nghĩ về việc xuất khẩu trí tuệ Việt. Trí tuệ ở đây là WISDOM chứ không phải là kiến thức, tức KNOWLEDGE, mà sự học mang lại. Tôi đau đáu như vậy bởi chúng ta đang có một vị thầy lớn là thiền sư Thích Nhất Hạnh đã mang Đạo Phật lan tỏa sang khắp Âu, Mỹ, rồi đi khắp thế giới. Ngày nay tăng thân đã có mặt khắp nơi trên địa cầu. Bây giờ học trò của thiền sư Thích Nhất Hạnh đã hiện diện trên rất nhiều quốc gia theo đúng nghĩa “tăng thân khắp chốn, quê hương nơi này”.
     
    Thầy Nhất Hạnh là người thầy lớn của tôi từ cách đây 10 năm. Đúng 10 năm trước, do đủ phước duyên nên tôi đã được gặp Thầy, được nghe Thầy giảng, và từ đó tôi đã có đường đi của chính mình. Tôi bất ngờ hơn nữa rằng khi Thầy kết thúc thăm và chuyến hoằng pháp tại Việt Nam quay về Pháp, những học trò của Thầy tiếp tục hướng dẫn tôi tu học và  hành thiền lại là các bạn người phương tây: Mỹ, Đức, Pháp, Úc,… Họ  là người nước ngoài nhưng đi trước cả tôi. Thật là lạ và thú vị. Nhưng đó là sự thật. Tôi vui và hạnh phúc vô cùng.

    Có một điều rất đặc biệt mà theo tôi được biết là thầy Nhất Hạnh là người đầu tiên  tìm ra và chính thức công bố về một Người Thầy rất lớn khác người Việt chúng ta đã “xuất khẩu” Phật giáo sang nước ngoài từ cách đây gần 20 thế kỷ. Đó là thiền sư Khương Tăng Hội, một bậc thầy lớn có cha là người nước Khương Cư thuộc Ấn Độ ngày xưa và mẹ người Việt.
     
    Thầy Khương Tăng Hội xuất gia lúc mới 10 tuổi và đã có công xây dựng và phát triển đạo Phật tại Việt Nam. Thành Luy Lâu và chùa Dâu nổi tiếng từ thế kỷ thứ III. Thầy Khương Tăng Hội đã mang đạo Phật sang Lạc Dương, Trung Quốc. Liệu có gì có thể tự hào hơn về dân tôc Việt Nam và  bậc thầy lớn Khương Tăng Hội của dân tộc ta từ những ngày xa xưa.

    Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức. Tuy nhiên, thiền pháp của thiền sư Khương Tăng Hội rất thực tiễn, không hề để thiền giả bay bổng trong vòm trời lý thuyết. Căn bản của thiền pháp này vẫn là sự thực tập hơi thở ý thức và pháp quán chiếu về bốn lĩnh vực hiện hữu gọi là tứ niệm xứ và các pháp quán tưởng căn bản đã được nêu ra trong các thiền kinh nguyên thủy. 

    Nhân cách của thiền sư Tăng Hội là một nhân cách vĩ đại. Ta chỉ cần đọc bài kệ mà Tôn Xước, một người trí thức trong hoàng gia Đông Ngô đề lên tranh tượng của thầy sau đây thì đủ thấy được nhân cách ấy:
     
    Lặng lẽ, một mình, 
    đó là khí chất 
    tâm không bận bịu 
    tình không vướng mắc
    đêm đen soi đường 
    lay người thức giấc
    vượt cao, đi xa 
    thoát ngoài cõi tục.

    Tôi rất thích thú và vô cùng hạnh phúc khi có trên tay cuốn sách “Thiền sư Khương Tăng Hội”. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần và tìm thấy trong đó hình bóng cả dân tộc Việt, trong đó có chính mình trong cuốn sách. Tôi chỉ mong cuốn sách được xuất bản hàng triệu bản để mỗi người con Việt nhận ra vị tổ của mình, những vị tiền bối tài năng và có tuệ tri. Tôi nhớ rằng khi lcầm cuốn sách trên tay tôi đã đọc suốt đêm, rồi đọc lại, rồi cứ thế giật mình. Tôi như tỉnh thức. Tôi như vớ được báu vật bị thất lạc từ rất rất lâu. Tôi đã ôm tập sách trong tay, ôm giữ gần tim của mình, nhắm mắt lại và tưởng tượng ra thủa xưa từ những thế kỷ đầu sau công nguyên. Hạnh phúc là có thực. Hạnh phúc là được hiểu về tổ của mình, về những người thầy lớn của mình. Tôi (và cả bạn nữa) mang ơn thầy Thích Nhất Hạnh vô cùng.

    Từ khi biết đến tác phẩm quý “Thiền sư Khương Tăng Hội” này tôi đã đi rất nhiều chùa để tìm xem ở những đâu có thờ Tổ Khương Tăng Hội. Tiếc thay, tìm mãi mà không thấy. Nơi nơi chỉ thấy thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma, một vị tổ người Ấn Độ đã mang đạo Phật vào Trung Quốc rồi sau này mới lan sang đến Việt Nam. Tôi cứ trăn trở mãi, rằng tại sao ngay tại Việt Nam, người Việt lại không thờ Tổ nước mình mà Tổ Khương Tăng Hội còn mang đạo Phật sang Lạc Dương, Trung Quốc từ thời Ngô Tôn Quyền trước Tổ Bồ Đề Ma khá lâu cơ mà.

    May thay, trong lần viếng thăm chùa Phật tích gần đây, tôi đã thấy có ngôi chùa đầu tiên thờ tổ Khương Tăng Hội. Về đến nơi, trực tiếp được chiêm bái và đảnh lễ Ngài tôi mừng muốn khóc. Hạnh phúc vô cùng.

    Vui hơn nữa, gần đây các phật tử của xã Trung Kênh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đã quyết định thờ tổ Khương Tăng Hội. Hiện nay tượng của Ngài đang được tạc và như vậy tại ngôi chùa mang tên Kênh Vàng này, nơi cách chùa Dâu 30 km, sẽ có tượng tổ được thờ. Tôi đã về đến tận nơi và ngắm nơi Ngài sẽ được thờ tôn kính. Mới đây anh Trần Bá Đền lại gọi điện thông báo rằng tượng Tổ Khương Tăng Hội đã tạc xong chỉ chờ ngày rước Ngài về thờ và làm lễ. Như vậy, đây là ngôi chùa thứ 2 tại đất nước Việt Nam của chúng ta có thờ thiền sư Khương Tăng Hội. Tôi mong rằng một này không xa, tại chính chùa Dâu, tổ Khương Tăng Hội cũng sẽ lại được tôn thờ xứng đáng.

    Thêm một suy nghĩ nữa rằng, nên chăng thành lập học viện Khương Tăng Hội tại Việt Nam. Tôi nghĩ và quả quyết rằng rất nên và cần thiết. Nhưng đó là môt việc lớn. Lớn và quan trọng. Quan trọng nên càng cần phải làm. Khó mấy cũng làm. Tôi tin chắc rằng nếu bây giờ không có thì mai sau sẽ có, năm nay không thành lập thì chục năm nữa nhất định phải thành lập. Thậm chí đời này không làm thì đời sau sẽ làm. Phật giáo và phật tử chúng ta không làm thì nhất định nhà nước sẽ làm. Tôi tin vững chắc vào điều này.
    Tôi rất vui khi biết sách quý và giá trị “Thiền sư Khương Tăng Hội” vừa được tái bản và chỉnh sửa cách đây vài ngày, ngay trước thềm năm mới 2016. Hiện nay sách đã in xong tại Hà Nội và đang chuyển vào Sài Gòn cũng như đi các tỉnh thành khác trên cả nước. Tôi muốn gửi sự biết ơn vô cùng to lớn và không kể xiết đến những ai đã góp tâm để sách được tái bản . Chúng tôi muốn bạn đọc ngay cuốn sách quý này để biết và hiểu về một sự thật đã bị chôn vùi trong nhiều năm qua.

    Xin hồi hướng công đức tái bản sách “Thiền sư Khương Tăng Hội”này đến thầy Thích Nhất Hạnh với nguyện mong thầy mau bình phục để tiếp tục hướng dẫn phật tử chúng con tu tập. Nguyện mong ngày càng có thêm nhiều người biết đúng đường để tu, biết thực hành và ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống và công việc thường ngày. Hạnh phúc là có thật, nếu chúng ta tu thật.

    Xin thành tâm chúc mừng năm mới 2016 và chúc quý vị khai thác được thật nhiều, học được thật nhiều từ cuốn sách quý ““Thiền sư Khương Tăng Hội”này. Chúc mừng quý vị nào may mắn sớm có cảo thơm trên tay.

    Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng
    Read more »
  • Hành Trình Đạo Phật Trong Tôi

    Và với bức tranh tuổi thơ của tôi, mái chùa là một xâu chuỗi kỉ niệm đong đầy yêu thương và mang nhiều dấu ấn sâu đậm từ việc đi chùa cho đến dẫn tôi đến với đạo...

     

    Mái chùa che chở hồn dân tộc
     
    Nếp sống muôn đời của tổ tông

    Thật vậy… từ xa xưa mái chùa đã gắn liền với hình ảnh của làng quê bình dị, đó không chỉ là một ngôi nhà tâm linh mà còn là một nét đẹp tâm hồn, một hình ảnh đặc biệt trong bức tranh thôn quê bình dị ấy. Và với bức tranh tuổi thơ của tôi, mái chùa là một xâu chuỗi kỉ niệm đong đầy yêu thương và mang nhiều dấu ấn sâu đậm từ việc đi chùa cho đến dẫn tôi đến với đạo…. Nó tựa như một chuyến hành trình dài đưa tôi đi mà đến tận bây giờ tôi vẫn khó trả lời, phải chăng tất cả bởi chữ “duyên”. Nhưng không sao, nó đã đi và đưa tôi như thế này đó…

    Tôi đi… chùa từ thuở còn tấm bé mới lớp 1, lớp 2. Ông nội tôi trông nom nhang đèn cùng các cụ trong ngôi chùa làng và tôi nhớ rằng tôi đã được ông đèo trên chiếc xe đạp cũ đi chùa. Tôi đi không phải vì tôi muốn đi, mà vì không có người chơi cùng nên tôi đành theo ông vậy. Song không hiểu cái đi đó nó thành quen hay tôi thích, nhưng suốt quãng thời gian 5 năm học tiểu học tôi đã được nội đèo đi chùa trong những ngày nghỉ… Thật bình yên, tôi đi chùa như thế đó…

    Tôi nhớ… có một kỉ niệm mà tôi không bao giờ quên. Đó là ngày hội ở chùa, do các cụ có thuê trần thiết nên phải cử người trông nom qua đêm và nội tôi đã nhận. Và hôm đó, nội tôi đã lên chùa ngủ nhưng tôi đòi đi theo, bởi từ trước tới nay tôi luôn ngủ cùng nội, hễ hôm nào nội đi đâu xa không ngủ ở nhà là tối đến tôi lại khóc to: “Ông ơi, ông đâu rồi?!”Thật buồn cười phải không mọi người. Cái đêm ngủ ở chùa đó tôi cũng đã khóc dù được ngủ cùng nội. Tôi khóc vì tôi sợ, sợ những ông tượng trong chùa, nhất là ông hộ pháp trừng ác. Nằm ở góc bên phải chùa, tôi thấy một ông tượng to râu dài, mặt đỏ, tay cầm đao kiếm, cưỡi sư tử; chuyển nằm sang góc phải tôi lại thấy một ông tượng cũng mặt đỏ, râu dài (đức ông); tôi đòi nằm vào bên trong thì chưa kịp nằm tôi đã đòi ra vì sợ, sợ những ông tượng đủ tư thế, đủ sắc thái: đứng, nằm, ngồi, to, gầy, buồn vui… Cuối cùng tôi đã đòi về, nhưng điều đó là không thể đành chấp nhận ngủ ở chùa và mân mê cổ áo ông thức suốt đêm…

    Tôi yêu… những ông Bụt, những Phật bà hiền lành, phúc hậu… Khác với tiểu học, lên cấp 2 tôi đã bớt “sợ” hơn và nhận ra, rồi dần cảm thấy “yêu” những ông tượng năm xưa. Một Quan Âm Thị Kính hiền lành tay bồng một trẻ em, một Phật bà hiền từ khoan dung tay cầm “lá tre”, bình nước, một “em bé” sơ sinh đang đi nở nụ cười mỉm,… Tất cả, đã được tôi suy nghĩ ví von như thế. Thật ngây ngô, đôi khi nghĩ lại tôi đã bật cười vì chính mình, nếu các Ngài có biết chắc cũng cười như tôi nhỉ… Cuộc sống thi vị biết bao…

    Tôi thích… những câu chuyện “kì bí” về các đấng thần thánh, siêu nhiên dù tôi rất sợ. Tôi chú ý nghe từng câu khi có ai đó kể và để rồi đi “tường thuật” lại cho đám bạn cùng lớp nghe. “Cấm chỉ chỏ, chỉ vào về nhà ông tượng chặt cụt tay!” đó là câu nói mà không chỉ tôi chắc còn nhiều bạn nhỏ cũng được nghe người lớn dặn mỗi lần khi lên chùa như vậy. Tôi đã nghĩ ông tượng chắc ghê lắm. Thật buồn cười…

    Tôi ấn tượng… đêm hội hoa đăng đầu tiên. Thời gian trôi qua, không còn là một cậu bé lớp 1, lớp 2 được nội đèo đi chùa bên chiếc xe đạp cũ “cọc cọc”, tôi đã là một cậu học sinh cấp 2. Năm tôi học lớp 8, được một bá trong cùng xã đưa về chùa Diên Quang (Quế Võ - Bắc Ninh) . Tôi đã đi đến các ngôi chùa ở nhiều nơi khác nhau, nhưng ngôi chùa này đã mở ra cho tôi một cánh cửa mới, nó đẹp, nó lạ và nó ấn tượng đến lạ lùng. Thức trắng đêm hôm trước thao thức cùng đoàn về chùa. Xuống xe, tôi đã thốt lên rằng “Đẹp thật, các Thầy làm kì công quá, chưa bao giờ cháu thấy chùa nào làm đẹp như thế này”. Những dãy đèn hoa sen sáng hồng rực, tôn tượng Tây phương Tam Thánh trang trí lộng lẫy cờ hoa dưới ánh đèn mờ ảo. Tôi đã có một ngày trải nghiệm đầy thú vị, nghe pháp, tụng kinh, niệm Phật, … và đặc biệt là đêm hội hoa đăng dưới ánh sáng của hàng ngàn ngọn nến lung linh trong cái giá buốt se lạnh, tất cả đều bỡ ngỡ trong tôi.

    Tôi đến… với Đạo như một cơ duyên thù thắng… Kết thúc chuyến đi một ngày đầy hoan hỷ, an lạc ở chùa Diên Quang đó, tôi đã dần biết đến và hiểu được nghe pháp là gì, tụng kinh để làm gì, nó ra sao, làm công quả có lợi ích gì,… tất cả đã được trả lời sau chuyến đi ấy. Tôi đã tìm và hiểu về Phật giáo qua các bài giảng quý Thầy, qua việc tra cứu Internet,… Để rồi tôi quyết định trọn đạo Phật là đạo tôi theo, tôi hành trì tu tập áp dụng trong đời sống của mình…

    Tôi mê mẩn… và như lắng đọng tâm hồn trong từng lời kinh, tiếng kệ xen kẽ nhịp mõ, tiếng chuông nhịp nhàng. Mỗi lần tụng kinh và xướng lên hồng danh của đức Phật và Bồ Tát, lòng tôi cảm thấy đầy an lạc và hoan hỷ. Tôi hiểu và thấy thích thú với cảnh giới Tây phương trong kinh A Di Đà, với hạnh nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát bao dung, từ bi, say sưa trong lời dạy của Đức Thế Tôn trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa,… Thật vi diệu…

    Tôi phát nguyện… hành trì theo pháp môn Tịnh Độ cầu giác ngộ, giải thoát. Tôi nguyện sẽ tụng kinh, ăn chay, đi chùa, phóng sinh, tránh ác làm lành,… Tôi cũng nguyện sẽ trở thành người con chính thức của Đức Phật (quy y Tam Bảo) sau khi đã dự đủ 3 khoá hoa đăng vía đức A Di Đà tại chùa Diên Quang. Và tôi đã làm như thế, để ngày 13 tháng 11 năm Quý Tỵ, là ngày tôi như được sinh ra lần thứ hai trên cõi đời này, tôi đã trở tàhnh người con của đức Phật từ bi. Ôi! Sung sướng thay, hạnh phúc thay. Con xin cảm tạ tri ân mái chùa Diên Quang đã dẫn con tới đạo Phật và xin tri ân công đức tới vị thầy Bổn sư khả kính, Thượng toạ Thích Chân Tính, người mà con ngưỡng mộ nguyện một lòng ơn nhớ. Tôi cũng nguyện, sẽ lấy đạo Phật làm ngôi nhà Tâm linh của mình, suốt một đời quy ngưỡng “sống để dạ chết mang theo”…

    Tôi vui… vì đạo Phật đưa tôi đến một cuộc sống mới đầy an lạc và tỉnh thức. Có thể nói rằng đạo Phật (hay việc quy y Tam Bảo) như một chiếc đòn bẩy công năng đưa tôi đến đời sống mới, là điểm tựa, là nguồn động lực vi diệu cho tôi vươn lên trong mọi hoàn cảnh cuộc sống với đầy rẫy xô bồ náo nhiệt của guồng quay bất tận trong xã hội hiện tại... Nhưng…

    Tôi buồn… mỗi khi nhớ tới cánh cửa chùa làng đìu hiu vắng lặng. Về chùa Diên Quang, tôi thấy một khung cảnh tu tập đầy hoan hỷ, an lạc, nó được thể hiện rõ trên khuôn mặt của mọi người khắp các tỉnh thành lân cận về cộng tu. Dưới những lời giảng của quý Thầy, trong câu niệm xưng danh chư Phật, Bồ Tát, tôi nghĩ mình như đang ở Tây phương vậy. Tháng nào cũng thế, ngôi chùa như đông vui và trang nghiêm quá. Tôi luôn mong ngôi chùa làng quê tôi cũng sớm được như vậy…

    Tôi mơ… một ngày nào kia giáo pháp của đức Phật sẽ được lan toả trên vùng quê tôi. Tôi mơ lời kinh, tiếng kệ, nhịp mõ, tiếng chuông sẽ ngân vang hàng ngày, nếu nó trở thành hiện thực… giáo pháp đức Phật sẽ được xương minh nơi vùng đất vô minh bị che lấp bởi trăm nghìn thứ tà đạo:hầu bóng Tứ phủ, tìm hài cốt tâm linh, đạo Bác Hồ, đạo Âm Thanh Phật sống Trần Tâm,… . Tôi cũng mơ rằng sẽ có những buổi cộng tu chào đón hàng nghìn Phật tử khắp nơi về tu tập như chùa Diên Quang vậy. Ôi, thật hạnh phúc và sung sướng vùng quê tăm tối, mọi người biết đi chùa lễ Phật, tụng kinh thường xuyên, không còn là quy y Tam Bảo rồi lấy điệp cả năm không lên chùa một lần như hiện tại. Diễm phúc và trang trọng biết bao… được quy y Tam Bảo, chính thức mang trong mình giọt máu hồng của Đức Thế Tôn, tôi cảm thấy tâm hồn tôi luôn an trú trong tình yêu thương bao bọc của Đấng Từ phụ hiền lành, bác ái. Việc quy y Tam Bảo như một chiếc đòn bẩy công năng giúp tôi biết vươn lên và sống tốt trong đời sống hiện tại và tìm tới sự giải thoát trong tương lai. Tôi luôn tâm niệm về luật nhân quả và luôn hướng tới cảnh giới A Di Đà ở thế giới Tây phương như trong kinh A Di Đà nói. Để rồi, tôi luôn nhớ bốn câu thơ mà Đức Phật đã dạy trong một lần nghe pháp của quý Thầy:

    Không làm các việc ác
     
    Siêng làm các hạnh lành
     
    Giữ tâm ý tịnh thanh
     
    Là lời chư Phật dạy…

    Nguyện cầu mười phương Tam Bảo gia hộ cho thế giới hoà bình, quốc gia hưng vượng. Nguyện cho tất cả loài người sống trọn trong tình yêu thương đùm bọc sẻ chia, nguyện cho tứ chúng Phật tử sống trọn trong sự an lạc, giác ngộ và mong cầu giải thoát…

    Nam mô A Di Đà Phật.

     

    Đại Hoá, ngày 13 tháng 06 năm 2014.
     
    PT.Tịnh Sơn
    Read more »
  • Sao vội mắng con bất hiếu

    Hạnh phúc của mẹ thằng Đen có lẽ giờ chỉ mới bắt đầu, khi bà có đứa con là niềm tự hào cũng là hạnh phúc tuyệt vời nhất trong đời. Đừng nhìn đi đâu xa, hạnh phúc ở ngay quanh mình đấy thôi, hãy lắng nghe bằng trái tim và quan sát bằng ánh mắt của những lần đầu tiên.


    Nó lồm cồm bò dậy, phủi bụi, nhìn người ta bằng cặp mắt ai oán, rồi ôm cái thúng, xếp gọn đồ vào, lủi thủi đi. Nó quen rồi. Về tới cổng nó lúi húi kéo mớ rơm phủ lên cái hộp đánh giày rồi lững thững vào nhà. Nghe tiếng dép nó lết ngoài cổng vào, mẹ nó yếu đuối ngồi dậy, họ khục khặc rồi thều thào:

    - Về rồi đó hử? La cà mãi đến bao giờ mày mới nên người được? Mày không thể bắt chước anh mày làm mọi thứ cho ra hồn rồi mang tiền về cho mẹ à?

    Thằng bé quay lưng bỏ đi vào phòng trong im lặng không nói.

    - Này, thằng kia, khụ khụ, con với cái, thật là bất hiếu!

    Nó nhét hai chữ bất hiếu vào lòng, chờ lúc mẹ không để ý lại lén lút mò ra hũ tiền, nhét vào những đồng bạc lẻ đã bị vò nhàu, rồi lại rón rén trở về nơi chái bếp mà nó gọi là phòng. Khi đã xong việc, nó thở phào nhẹ nhõm rồi miên man chìm vào giấc ngủ sau một ngày dài đầy mệt mỏi.

    Nó sinh ra thì ba nó cám cảnh nghèo mà bỏ mẹ con nó theo bà nào đó trên phố, rồi nghe đâu cũng bị bỏ rơi cù bơ cù bất nơi nào đó nơi xứ người, vạ vật không nơi nương tựa, đến giờ cũng không dám về làng, tủi hổ. Mẹ nó lại hay đau bệnh nhưng cũng gồng gánh nuôi con được mấy năm thì trái gió bị liệt nửa người, phải nằm một chỗ, thỉnh thoảng lê lết ra chợ bán được ít vé số rồi lại về nhà nằm dài vì đau nhức. Nó có một thằng anh trai lớn hơn 6 tuổi, nay cũng 17, 18 gì đó, bỏ nhà đi làm ăn từ sớm, nói là đi làm ăn thế thôi chứ cũng lang thang phụ hồ vạ vật nơi xứ người, dăm ba tháng về một lần đưa mẹ ít tiền chưa đủ trang trải rồi lại đi, cứ thế mà cũng đi biền biệt, ở nhà mẹ lại khen đáo để.

    Nó từ nhỏ đã là thằng ít nói, lại hay đánh nhau mọi người toàn gọi là thằng vô học, cứ lầm lì chai mặt ra chịu bao trận mắng chửi, xỉ vả, 10 tuổi đầu nhưng trông nó hợm lắm, tóc tai mọc cứng lởm chởm, da đen nhẻm, chai sạn, quần áo lúc nào cũng lấm lem bụi hồ. Hôm nào cũng đi từ sáng sớm tới tối mịt mới về nhà, về nhà rồi lại lăn ra ngủ mê mệt. Bà con chòm xóm ai cũng không ưa nó, nó chẳng làm gì phá làng phá xóm nhưng cũng chẳng giao du với ai, nó biệt tăm cả ngày không ai thấy, phải tôi ai hỏi gì nó cũng chẳng thưa, cái mặt câng câng nên ai cũng ghét. Hổm rày anh nó chỉ về đôi ba lần rồi lại đi, lần nào cũng canh lúc không có mẹ, moi ít tiền trong hũ rồi trốn chui trốn nhủi tiêu xài, nó đứng ra can ngăn thì bị anh nó xuống tay đến tội, vét gần hết tiền anh nó còn quăng lại một ít cho nó mà xỉa xói:

    - Mày lấy cái này mà đi mua thuốc bít cái mồm mày lại, bép xép chỉ có cái nhừ đòn thôi con ạ!

    Rồi anh nó quay đi, nó nhào theo ôm chân chặt cứng, bị anh nó đá văng ra vẫn cứ nhào tới ôm lấy anh nó không cho đi, anh nó đá nó một cái thật mạnh làm nó ôm bụng lăn lóc nhìn bằng đôi mắt gầm gừ.

    - Thằng hỗn, thằng câm, mày đừng có giỏi giữ tao, láo lếu gãy xương nhá con.

    Anh nó chạy ra cổng rồi lại mất hút sau lũy tre làng, nó ôm bụng ngồi dậy nhặt mấy đồng tiền lẻ bỏ vào hũ thì mẹ về tới cổng, tiếng ho khụ khụ làm mặt nó đang tái vì đau bỗng chuyền qua đen lì như hồi. Nhìn nó ôm hũ tiền trên tay, vài đồng tiền rơi ra ngoài, mẹ nó lết tới giằng lấy thấy tiền vơi đi khá nhiều, mắt mẹ nó hoe đỏ rồi bà tru tréo, vớ lấy cây chổi góc nhà đánh nó thật lực:

    - Thằng mất dạy, mày lại lấy tiền bà đi chơi tối ngày đó à? Cả ngày chẳng làm gì ra hồn còn dở thói trộm cắp, con với cái, không noi gương anh mày được à?

    Nó cúi xuống đỡ đòn không dám kêu than,mắt rơm rớm nước.

    Nắng lên.

    Ông giáo nhấp chén trà rồi ngồi phe phẩy cái quạt gỗ mộc ông rất thích, mẹ nó ngồi bên cạnh, hai người nhìn ra hướng xa xăm, bỗng ông giáo cất tiếng:

    - Tôi là tôi chỉ ước có được đứa con như cái thằng Đen thôi bà ạ, thế mà tôi không có duyên có số, bà nhà còn chưa có nói chi con.

    - Phận thầy đâu hiếm muộn gì, phải tội nhiều đám thầy không ưng.

    Ông giáo tặc lưỡi:

    - Số tôi gõ đầu trẻ thôi chứ làm chồng thì không đáng chị ạ.

    Mẹ nó ậm ừ cho qua rồi như sực nhớ điều gì bà lại hỏi:

    - Thế thầy nói thằng Đen là cái thằng nào tôi chả biết.

    Nó quét sân đánh rơi cái chổi rồi lúi húi nhặt lên, ông giáo nhìn nó cười hiền rồi lại nhìn mẹ nó ra chiều suy tư lắm

    - Thằng nhỏ ấy tầm như con chị thôi, tung tích nó thì kĩ lắm, nó ở làng bên, mà người làng bên cũng biết nó không phải người cùng làng, chắc nơi nào lưu lạc tới. Phải cái nó siêng, hôm nào cũng siêng năng làm phụ hồ cho mấy ông chú bác bên ấy lấy mấy đồng tiền còm cõi, nó ngoan nhưng ít nói, được cái siêng ai cũng thương.

    Mẹ nó đánh đùi cái đét:

    - Phải nó con tôi thì quý hóa quá thầy ạ, chứ như thằng nhà này cứ lầm lì thế đầy mà dạo đây còn giở thói trộm cắp nữa chứ.

    Ông giáo nhìn ra nó, làn da đen nhẻm có chút đỏ hồng:

    - Nói thế phải tội chứ tôi là tôi phục thằng nhỏ Đen ấy, có hiếu mà chăm lắm, lúc nào cũng chỉ biết chăm chăm kiếm tiền rồi về với mẹ, nghe ông trưởng bên ấy có lần giữ nó lại cho cái bánh nó cũng không màng vì xong việc là về với mẹ cho bằng được.

    Mẹ nó ngồi suy tư rồi tặc lưỡi, ông giáo nhấp ngụm trà rồi khẽ lắc đầu:

    - Tội cái thằng….

    Thằng Đen dậy từ rất sớm để gói ghém sang làng bên, nó có phải tên Đen đâu mà da nó den nhẻm nên người ta gọi thế. Nó ít cười nhưng mỗi lần cười là thấy cả mùa xuân trong đó. Hôm nay làng không có việc nên nó ngồi chờ người ta đánh bò về thì nó đi cộ, ông trưởng quắc nó lại đấm lưng cho ông rồi vỗ vỗ đầu nó như người thân quen:

    - Mày là mày ít nói lắm đó nhé, nhưng mà tao thương, có việc tao giao hết. Nhưng mày phải nói tao nghe sao mày không nói nhiều, không giao du, người ta ghét lắm.

    Nó cúi xuống ậm ừ rồi cũng cát tiếng:

    - Con không có ba

    - Gì? Mày nói gì? Tao nghe không rõ.

    - Thưa…con không có ba. Trẻ làng đánh con hùa nhau đánh con dữ lắm, nếu con nói nhiều, thanh minh rằng ba ở bên chỉ là nói dối…Mà con lại sợ con mắng chúng nó thì phải tội.


    Nó ấm ức như muốn khóc. Ông trưởng có ánh nhìn hơi bàng hoàng trước nó. “Còn nhỏ quá mà biết suy nghĩ. Đời không ép nó phải lần vào mà tất cả cuộc đời lẫn vào nó hết.” Ông nhìn tay chân rươm rướm máu của nó rồi lác đầu đưa nó cái bánh thì cộ về.

    Gạch đổ ập lên người nó, gãy chân ráng chiều, nó lê lết đi không nổi, cả làng ai cũng lo nhưng nó chỉ cười, bảo mẹ đợi rồi mò mẫm về nhà, trễ rồi.

    ***

    Mẹ nó đang nấu cơm thấy nó về tới nhà dùng cây củi phang thẳng vào chân. Nó té dúi dụi, mặt biến sắc, tím ngắt rồi đứng lên, mẹ nó gườm gườm:

    - Mày la cà giờ không còn nhà nữa đó hả? Hôm nay thì khỏi ăn cơm con nhé.

    Nó chui vào buồng tâm tức khóc.

    Nó làm sốt thì tin anh nó bị công an bắt ùa về, mẹ nó khóc lên khóc xuống kêu oan, rồi lại làm tình làm tội sao nó không thay anh nó rồi lên đồn tru tréo. Về tới nhà thì nó mất tăm chỉ còn ông giáo ngồi đợi.

    - Tôi đến khổ thầy ơi,hai đứa con chẳng đứa nào ra hồn cả!

    Ông giáo lắc đầu:

    - Nhiều khi chị bị khổ đau và lầm tưởng che mắt quá, nhiều lần tôi muốn chị cảnh tỉnh trong cách cư xử ra mà không được, nhưng cái gì cũng đừng nên nhìn vẻ bề ngoài.

    Ông giáo nắm tay mẹ nó sang làng bên, bên ấy dưới ngôi nhà đang xây có thằng bé dang cà nhắc khiêng mớ gạch, thằng Đen, nó là con chị.

    Có nhiều người đã đánh mất đi hạnh phúc của mình với những định kiến không đáng có. Dường như người ta đã sai trong đôi mắt người ta nhìn nhận, cứ như để cho những quan niệm hãy luôn tồn tại, che khuất đi nhiều giá trị mà nếu có thời gian, nếu chịu tiếp nhận hẳn sẽ thấy hạnh phúc của đời mình. Hạnh phúc của mẹ thằng Đen có lẽ giờ chỉ mới bắt đầu, khi bà có đứa con là niềm tự hào cũng là hạnh phúc tuyệt vời nhất trong đời. Đừng nhìn đi đâu xa, hạnh phúc ở ngay quanh mình đấy thôi, hãy lắng nghe bằng trái tim và quan sát bằng ánh mắt của những lần đầu tiên.

    Lê Hứa Huyền Trân - Vườn hoa Phật giáo

     

    Read more »
RSS